Phân tích bài thơ Tây Tiến từ Doanh trại bừng lẽn hội đuốc hoa đến hết

Thứ năm , 07/07/2016, 11:35 GMT+7
     

Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến từ “Doanh trại bừng lẽn hội đuốc hoa" đến hết.

Hướng dẫn làm bài

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kia em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Từ ngừ ở ba câu thơ này không nằm trong hệ kí ức. Bởi lẽ ngoài những động từ mạnh mè (Doanh trại bừng lẽn... Khèn lên...), một hô ngữ, một tiếng gọi (Kìa em...) khiến cảnh tượng như đang diễn ra trước mắt. Khi kỉ niệm sống động và da diết thức dậy trong lòng người, ta cảm giác như trong hiện tại. Và như trên đã nói, điều này khiến bài thơ không gần với thê hồi tưởng mà là một khúc độc tấu của người chiến sĩ đang hành quân. Nếu mười bốn câu thơ mở đầu được đặc trưng bởi mô típ về sương khói, về độ cao thì ở tám câu thơ tiếp theo, nghệ thuật trùng điệp gợi lên một trường liên tưởng khác. Hội đuốc, hoa; từ âm thanh đến ngữ nghĩa, những từ này lập tức làm xuất hiện trong người đọc Việt Nam những ẩn dụ về hội lề cẩn lứa đôi (động phòng hoa chúc) của truyền thống. Đuốc, hoa, mặt khác, lại tắm trong ánh sáng của lửa trại, của những đêm rước đuốc, của hội lề cách mạng, trở thành ẩn dụ của tình quân dân, chỉ nhờ thay đổi có một chữ: Chúc (đèn nến) trở thành đuốc. Sự thay đổi này là của nhà thơ hay đây là chi tiết của đời thực? Câu trả lời đà rõ. Chỉ có điều; trong cuộc đời thực đã đầy những chi tiết lung linh chất thơ như vậy, nhưng những nhà thơ có thể chớp lấy nó như Quang Dùng lại không có nhiều.

Nghệ thuật trùng điệp, ở cấp độ đơn giản nhất, là điệp từ. Trong hội lề của rừng núi, con người hoà nhập với thiên nhiên, làm một. Hồn thơ được điệp lại trong hồn lau.

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Nghệ thuật trùng điệp ở hai câu thơ tiếp theo lại không nổi lên trên bề mặt của từ ngữ ở nét bút tạo dáng của nhà thơ. vẻ đẹp của hoa trôi như điệp lại dáng cô đơn của con người trên chiếc thuyền tròng trành.

Ở hai câu thơ này, nghệ thuật điệp trùng trong từ ngừ rất tinh tế và năm ở hai cặp từ đứng ở cuối hai câu thơ; độc mộc và đong đưa. Vì sao ta có cảm giác như hai cặp từ này điệp lại nhau dù ở đây không hề có điệp ngũ? Đó là do một mặt chúng đều là từ kép, mặt khác, chúng giống nhau ở chỗ trong mổi từ kép đều có điệp âm và điệp thanh. Nếu độc mộc tự lặp lại âm thanh cuối, thì € mg đưa tự lại âm được rĩ 7 đầu và thanh bàng. 

Như vậy, toàn bộ khổ thơ mở đầu bằng Doanh trại bừng lên... cho tới hai câu này giống như một chỗ dừng chân trong toàn bộ bài thơ Tây Tiến, với những biến chuyển trong nhạc điệu và hình ảnh. Trên cái nền kì vĩ của rừng núi, tất cả đả bừng sáng, quyện lại qua nhừng hình ảnh lồng ghép và tiết tấu dập dìu của vũ hội.

Đường như được tẩy rửa và tiếp sức sau nghi thức của lễ hội, như những con người nguyên sơ của rừng núi. người lính lại lên đường, nhưng giờ đây họ mang trong mình cả sức mạnh của thiên nhiên.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Nếu như không có những lời chú thích của các cuốn sách nghiên cứu về cuộc sống của người lính Tây Tiến, có thể bạn đọc trè ngày nay nghĩ rằng Quang Dũng đã lí tưởng hóa hình ảnh của họ qua hai câu thơ trên. Song có nhửng thời điểm mà thần thoại và đời thường nhập làm một. Ngược lại, không phải chỉ ở bất kì thời điểm nào của lịch sử cùng có thể xuất hiện một Tiến quân ca, một Tây Tiến. Chỉ có điều, giửa khúc hát bi tráng này, ta vần thấy nổi lên lời dộc tâu của chàng trai Hà Nội.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Khi Văn Cao viết Tiến quân ca, chiến trường vần còn ở phía trước đối với chàng trai Hà Nội. Với Tây Tiến, Quang Dùng đà và đang đi qua chiến trận. Vần còn không khí cổ kính, nhưng ai dám bảo những hình ảnh như biên cương, viễn xứ, áo bào, hẹn ước, chia phôi... là ước lệ? Nơi biên giới Việt Lào “đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều” (Trần Lê Văn). Lè nào người bình văn ngày nay chỉ thấy nghệ thuật đối lập trong những cáu như:

Rải rác biên cương mồ viền xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Nơi đó, cái chết ở khắp nơi. Mà cuộc đời, người thanh niên chỉ có một. Đó là sự thật viết bằng máu của người lính Tây Tiến. Chĩ có điều ta không thể không bàng hoàng tự hỏi: vì sao Quang Dũng có thể thực hiện dược sự trùng khít tuyệt vời giữa sự thực cuộc đời và thơ đến thế?

Kết thúc cổ điển của những khúc quân hành là cái đích đã đạt tới, viên màn, hài hoà. Nhưng ở Tây Tiến, kết thúc là:

Áo bào thay chiểu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Vây mà con đường vẫn ngược lèn, thăm thẳm:

Tây Tiến người di không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm mót chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chăng về xuôi

Tây Tiến là một khúc độc hành hơn ià khúc quân hành, bởi nó buồn. Nhưng trong cái chết, người chiến sĩ hoà nhập trở lại với đất, với núi sông. Bởi vậy, nổi buồn lan tỏa từ bài thơ mang kích thước khác thường. Khúc hát tang lễ trơ thành tiếng gầm, khúc độc hành cùa dòng sông hoang dại.