Soạn bài các phương châm hội thoại tiếp theo (bài 2)

Thứ hai , 27/07/2015, 14:34 GMT+7
     

Soạn bài các phương châm hội thoại tiếp theo

I. Phương châm quan hệ

Thành ngữ “ông nói gà bà nói vịt” dùng để chỉ tình huống hội thoại mà mỗi người nói một đường, không ăn khớp với nhau, không hiểu nhau.

Nếu xuất hiện những tình huống hội thoại như thế thì con người sẽ không giao tiếp với nhau được và những hoạt động của xã hội sẽ rối loạn, lung tung.

Như thế, khi giao tiếp cần nói đúng vào đề tài, tránh nói lạc đề.

II. Phương châm  cách thức

1. Trong tiếng Việt, thành ngữ “dây cà ra dây muống” chỉ cách nói dài dòng, rườm rà. Còn thành ngữ “lúng búng như ngậm hột thị” chỉ cách nói ấp úng, không thành lời, không rành mạch.

Những cách nói ấy khiến người nghe khó tiếp nhận hoặc tiếp nhận không đúng nội dung được truyền đạt. Từ đó, cuộc giao tiếp không đạt kết quả mong muốn.

Như thế, khi giao tiếp cần chú ý đến cách nói ngắn gọn, rành mạch.

2. Ông khách có sự hiểu lầm như vậy vì cậu bé đã dùng câu rút gọn tạo nên một sự mơ hồ.

Lẽ ra cậu bé phải trả lời: 

Thưa bác, bố cháu về quê rồi. Hay: Thưa bác, bố cháu đã về quê. Bố cháu có để lại mảnh giấy cho bác nhưng cháu làm cháy mất rồi.

Cách nói đầy đủ nêu trên ngoài tác dụng làm cho nội dung câu nói rõ ràng, tránh được mơ hồ còn thể hiện được sự lễ độ của người nói đối với người nghe.

Như thế, khi giao tiếp cần chú ý tránh cách nói mơ hồ.

III. Phương châm lịch sử

1. Ông lão ăn xin và cậu bé đều không có của cải tiền bạc gì nhưng cả hai đều cảm nhận được tình cảm mà người kia đã dành cho mình, đặc biệt là tình cảm của cậu bé đối với ông lão ăn xin. Đối với một con người đã già, đôi mắt đỏ hoe, nước mắt giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi, cậu bé đã không hề tỏ ra khinh miệt, xa lánh hay có lời lẽ thiếu lịch sự. Trái lại, cậu đã có thái độ và lời nói rất mực chân thành cho thấy sự tôn trọng và quan tâm đến người khác dù họ ở vào hoàn cảnh bần cùng.

Như thế, trong giao tiếp dù người đối thoại có địa vị xã hội và hoàn cảnh như thế nào đi nữa thì người nói vẫn phải chú ý có cách nói tôn trọng đối với người đó. Không nên vì thấy họ nghèo khó, thấp kém mà có những lời lẽ khinh miệt, thiếu lịch sử.

2.

a. Tuy Thúy Kiều là gái lầu xanh địa vị ở vào hạng dưới đáy xã hội nhưng khi gặp gỡ, Từ Hải vẫn dành cho nàng những lời thật tao nhã:

Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,

Phải người trăng gió vật vờ hay sao?

Bấy lâu nghe tiếng má đào,

Mắt xanh chẳng để ai vào có không?”

Đáp  lại, Thúy Kiều cũng rất khiêm nhường khi nói về mình và nói về Từ Hải – một tên giặc chống lại triều đình, công danh chưa đạt, bằng những lời lẽ trang trọng:

Thưa rằng: “Lượng cả bao dong

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen,

Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”.

b. Tuy khác nhau về giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh ở vào hai tình huống chẳng chút nào giống nhau nhưng đều có một điểm chung là lời nói của họ rất lịch sử, có văn hóa: tế nhị, khiêm tốn và tôn trọng người khác.

IV. Gợi ý giải bài tập

Bài tập 1. Ba câu tục ngữ, ca dao đó đề cao vai trò của ngôn ngữ trong đời sống và khuyên ta trong giao tiếp nên dùng những lời ăn tiếng nói lịch sự nhã nhặn.

Năm câu tục ngữ, ca dao có nội dung tương tự là:

“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.”

“Vàng thì thử lửa thử than,

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”.

“Chẳng được miếng thịt miếng xôi,

Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng”.

“Một lời nói quan tiền thúng thóc,

Một lời nói dùi đục cẳng tay”

“Một câu nhìn là chín câu lành”

Bài tập 2. Biện pháp tu từ từ vựng có liên quan trực tiếp với phương châm lịch sự là biện pháp nói giảm và nói tránh.

Ví dụ: Dùng từ: “đi”, “khuất núi” để thay cho từ “chết”; từ “vướng” thay “rớt”, “trượt”, “Bạn bị vướng một môn thay vì Bạn bị rớt một môn”.

Bài tập 3.

a. Nói dịu nhẹ như khen, nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách là nói mát.

b. Nói trước lời mà người khác chưa kịp nói là nói hớt.

c. Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là nói móc.

d. Nói chen vào chuyện người trên khi không được hỏi đến là nói leo.

e. Nói rành mạch, cặn kẽ, có trước có sau là nói ra đầu ra đũa.

Các từ ngữ trên đều chỉ cách nói liên quan đến phương châm lịch sự và phương châm cách thức.

Bài tập 4. Đôi khi người nói phải dùng những cách diễn đạt như thế vì:

a. Khi người nói chuẩn bị hỏi về một vấn đề không đúng vào đề tài mà hai người đang trao đổi, tránh để người nghe hiểu là mình không tuân thủ phương châm quan hệ người khác phải dùng cách nói: nhân tiện đây xin hỏi.

b. Trong giao tiếp,  đôi khi vì một lí do nào đó, người nói phải nói một điều mà người đó nghĩ là sẽ động chạm đến thể diện người đối thoại để giảm nhẹ sẹ đụng chạm, tức là xuất phát từ việc chú ý tuân thủ phương châm lịch sử, người nói phải dùng cách nói: cực chẳng đã tôi phải nói; tôi nói điều này có gì không phải anh bỏ qua cho; biết là làm anh không vui, nhưng…; xin lỗi, có thể anh không hài lòng nhưng tôi cũng phải thành thực mà nói là…;

c. Để báo hiệu cho người đối thoại biết là người đó đã không tuân thủ phương châm lịch sử và phải chấm dứt sự không tuân thủ đó, người nói phải dùng cách nói: đừng nói leo; đừng ngắt lời như thế; đừng nói cái giọng đó với tôi.

Bài tập 5.

- Nói băm nói bổ: nói bốp chát, xỉa xói, thô bạo, (phương châm lịch sự)

- Nói như đấm vào tai: nói mạnh, nghịch tai, khó tiếp nhận. (phương châm lịch sự)

- Điều nặng tiếng nhẹ: nói trách móc, chì chiết. (phương châm lịch sự)

- Nửa úp nửa nở: kiểu thái độ mập mờ, ỡm ở, không nói ra hết ý. (phương châm cách thức)

- Mồn loa mép giải: lắm lời, đanh đá, nói át người khác. (phương châm lịch sự)

- Đánh trống lảng: lảng ra, né tránh không muốn tham dự một việc nào đó, không muốn đề cập một vấn đề nào đó mà người đối thoại đang trao đổi. (phương châm quan hệ)

- Nói như dùi đục chấm mắm cáy: nói không khéo, thô cộc, thiếu tế nhị. (phương châm lịch sự)