Soạn bài đồng chí

Thứ tư , 29/07/2015, 21:15 GMT+7
     

Soạn bài đồng chí

(Chính Hữu trong Đầu súng trăng treo,

NXB Văn Học, Hà Nội, 1972)

I. Đôi nét về tác giả, tác phẩm

- Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc sinh năm 1926, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966). Thơ ông giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô động, hàm súc.

- Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948, thuộc những năm đầu của kháng chiến chống Pháp. Trong bài này, cảm hứng thơ hướng về chất thực của đời sống người lính. Nhà thơ khai thác cái đẹp và chất thơ trong cái bình dị, bình thường, không nhấn mạnh cái phi thường kì vĩ. Bài Đồng chí là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).

II. Đọc – hiểu văn bản

Câu 1. Đồng chí là một bài thơ viết theo thể tự do với 20 dòng thơ chia ra làm ba đoạn. Ở mỗi đoạn, sức nặng của tư tưởng và cảm xúc như dồn tụ cả vào dòng cuối để tạo một ấn tượng sâu sắc (các dòng 7, 11 và 20).

- Đoạn 1: Lí giải cơ sở của tình đồng chí.

- Đoạn 2: Những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.

- Đoạn 3: Biểu tượng về người lính.

Câu 2. Cơ sở của tình đống chí: Bảy câu đầu.

Tình đồng đội, đồng chí của những người lính cách mạng bắt nguồn sâu xa từ đâu? Câu hỏi ấy đoạn đầu bài thơ lí giải:

Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Những người lính cách mạng trong bài thơ tham gia cuộc kháng chiến đều xuất thân từ nông thôn, không hề quen biết nhau trước. Đúng như Hồng Nguyên trong bài thơ Nhớ thời đó đã viết: Lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ, họ đến từ những miền quê hương khác nhau: người từ miền biển (nước mặn đồng chua), người từ vùng đồi núi (đất cày lên sỏi đá). Nghĩa là họ đều lớn lên từ cảnh nghèo khó, lam lũ, vất vả. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho họ xa lạ bỗng nhiên trở nên gần gũi với nhau:

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Tuy những miền quê nghèo khổ khác nhau chẳng hẹn quen nhau, nhưng những người lính này đã cùng chung một lí tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, một ý chí tình cảm Súng bên súng, đầu sát bên đầu. Sự gắn bó càng thêm sâu đậm và thắm thiết hơn khi họ đắp chung chăn từng đêm giá rét: Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Khép lại đoạn đầu bài thơ là dòng thơ chỉ với một từ Đồng chí. Dòng thơ đặc biệt này làm thêm ý tình sâu sắc của đoạn thơ, giải thích được vì sao những người lính cách mạng đã gắn bó thân thiết như máu thịt với nhau. Có người so sánh đó là nốt nhấn nổi bật trong bản đàn, là sự kết tinh của mọi cảm xúc, mọi tình cảm: tình đồng chí là cao độ của tình bạn, tình người.

Câu 3. Những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí (mười câu sau)

Bài thơ về tình đồng đội của những người lính cách mạng lại có thêm là Đồng chí vì hơn ai hết, Chính Hữu cảm nhận tình đồng chí là có ý nghĩa thiêng liêng cao đẹp, là yếu tố quyết định sự tồn tại và chiến thắng của anh bộ đội cụ Hồ. Tình đồng chí đó là sự cảm thông sâu sắc tâm tư, nỗi lòng chân thực đầy xúc động của nhau:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kể gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Tình đồng chí là cùng nhau san sẻ thiếu thốn gian lao trên đường chiến đấu:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày.

Đặc biệt hơn nữa là cùng vượt qua những cơn ớn lạnh. Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

Các câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau mà nhà thơ khéo sử dụng đã diễn tả sinh động sự gắn bó chia sẻ của mọi cảnh ngộ của người lính.

Câu thơ kết thúc đoạn này: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay là hình ảnh gợi tả sự cảm thông ấm áp biểu hiện tình đồng chí thiêng liêng, giải thích được nguồn sức mạnh khiến những người lính cách mạng vượt qua mọi sự gian khổ, thiếu thốn khi ấy.

Câu 4. Biểu tượng về người lính (ba câu cuối)

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Hình ảnh cuối bài thơ đầu súng trăng treo đầy bất ngờ và thú vị. Bức tranh đẹp của tình đồng chí, đồng đội một đêm phục kích chờ giặc tới tại một cánh rừng hoang vắng lại được tô điểm hình ảnh một vầng trăng treo trên đầu súng của những người chiến sĩ đang đứng cạnh bên nhau. Thú vị biết bao và cũng bất ngờ biết bao khi súng và trăng, cứng rắn và diệu hiền, chiến sĩ và thi sĩ, hòa bình và chiến đấu, gần và xa, thực tại và mơ mộng sao lại hòa quyện với nhau đẹp đến như thế. Một câu thơ chỉ bốn tiếng đủ làm sáng lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của anh bộ đội cụ Hồ.

Câu 5. Về nhan đề bài thơ

Bài thơ viết về tình đồng đội của những người lính lại được tác giả đặt tên là Đồng chí là vì:

Đồng chí là cùng chung một chí hướng, một lí tưởng. Ngoài ra, đây cũng là cách xưng hô của những người cùng trong một đoàn thể cách mạng. Vì thế, đồng chí là mức độ cao nhất, sâu sắc nhất, là bản chất cách mạng của tình đồng đội.

Câu 6. Phân tích hình ảnh người lính

Anh bộ đội cụ Hồ xuất thân từ nông dân: Quê hương anh nước mặn đồng chua. Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Rời cuộc sống làng quê, bỏ lại nhà cửa ruộng nương, họ lên đường ra đi vì nghĩa lớn: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày. Gian nhà không mặc kể gió lung lay. Tuy dứt khoát mạnh mẽ (mặc kệ), nhưng các anh vẫn không quên làng quê thân yêu Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Đi chiến đấu là trải qua những gian lao thiếu thốn tột cùng từ sốt run người, áo rách, quần và đến chân không giày. Nhưng chính điều kiện, hoàn cảnh vô cùng khó khăn ấy càng tôn vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ: sáng lên nụ cười buốt giá.

Nhưng đẹp hơn cả là tình đồng đội sâu sắc thắm thiết.

soạn bài đồng chí đồng chí chính hữu